🇻🇳 Vĩ mô VN🔴 Tiêu cực
Thị trường TPDN tháng 7/2026: Lượng phát hành mới sụt giảm mạnh, thanh khoản thứ cấp bứt phá
Ảnh minh hoạ: AI Quy mô phát hành mới hạ nhiệt sâu, ngân hàng giữ vai trò chủ đạo Báo cáo Tổng quan thị trường TPDN tháng 7/2026 do Công ty Cổ phần Xếp hạng Tín nhiệm Đầu tư Việt Nam (VIS Rating) công bố ngày 11/8/2026 cho thấy, tổng giá trị TPDN phát hành mới trong tháng 7/2026 đạt 26 nghìn tỷ đồng. Số liệu này ghi nhận mức giảm mạnh 80% so với tháng 6 (tháng trước đó đạt 132 nghìn tỷ đồng). Ngân hàng tiếp tục là nhóm ngành phát hành TPDN chính trong tháng, chiếm tới 79% tổng giá trị phát hà...
[TIN MỚI](javascript:; "TIN MỚI")

Ảnh minh hoạ: AI
**Quy mô phát hành mới hạ nhiệt sâu, ngân hàng giữ vai trò chủ đạo**
Báo cáo Tổng quan thị trường TPDN tháng 7/2026 do Công ty Cổ phần Xếp hạng Tín
nhiệm Đầu tư Việt Nam (VIS Rating) công bố ngày 11/8/2026 cho thấy, tổng giá
trị TPDN phát hành mới trong tháng 7/2026 đạt 26 nghìn tỷ đồng. Số liệu này
ghi nhận mức giảm mạnh 80% so với tháng 6 (tháng trước đó đạt 132 nghìn tỷ
đồng).
Ngân hàng tiếp tục là nhóm ngành phát hành TPDN chính trong tháng, chiếm tới
79% tổng giá trị phát hành mới. Nhóm bất động sản dân cư xếp thứ hai nhưng chỉ
đóng góp 11%.

Về hình thức phát hành, trái phiếu riêng lẻ vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo với 80%
tổng giá trị phát hành mới (đạt 21 nghìn tỷ đồng), trong khi trái phiếu phát
hành ra công chúng chiếm 20% (đạt 5 nghìn tỷ đồng).
Thống kê chi tiết từ VIS Rating cho thấy cấu trúc lãi suất và kỳ hạn của hai
nhóm phát hành chính có sự phân hóa rõ rệt:
Nhóm Ngân hàng: Lãi suất coupon trung bình đạt 8,7%/năm, với kỳ hạn phát hành
trung bình kéo dài đến 12,5 năm. Các đợt phát hành quy mô lớn nhất trong tháng
đều thuộc về các ngân hàng. Tiêu biểu như hai lô trái phiếu công chúng thứ cấp
của Ngân hàng TMCP Phát triển TP. HCM (HDBank) mã HDBC7Y263302 (2.715 tỷ đồng)
và HDBC8Y263402 (2.585 tỷ đồng) với lãi suất kỳ đầu tiên lần lượt là 8,7% và
8,8%/năm. Bên cạnh đó là các đợt phát hành riêng lẻ của Ngân hàng TMCP Quân
Đội (MB,2.300 tỷ đồng, lãi suất 8,9%), Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
(Sacombank, 2.230 tỷ đồng và 1.000 tỷ đồng, lãi suất 10%) và Ngân hàng TMCP
Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV, 2.000 tỷ đồng, lãi suất 8,3%).
Nhóm Bất động sản: Lãi suất coupon trung bình cao hơn đáng kể, đạt 10,9%/năm,
tuy nhiên kỳ hạn trung bình lại ngắn hơn nhiều, chỉ ở mức 5,5 năm. Đợt phát
hành riêng lẻ đáng chú ý nhất ở nhóm này là lô VHM12613 của CTCP Vinhomes với
giá trị 2.000 tỷ đồng, kỳ hạn 3 năm, có tài sản đảm bảo và lãi suất kỳ đầu là
12,5%/năm.
Tính chung cấu trúc kỳ hạn của toàn bộ trái phiếu phát hành mới trong tháng
7/2026, có tới 69% giá trị phát hành thuộc kỳ hạn từ 5 - 10 năm, 30% thuộc kỳ
hạn 3 - 5 năm và chỉ 1% thuộc kỳ hạn 1 - 3 năm.
**Thanh khoản thứ cấp bứt phá 44%**
Trái ngược với sự trầm lắng trên thị trường sơ cấp, hoạt động giao dịch trên
thị trường TPDN thứ cấp tháng 7/2026 diễn ra hết sức sôi động.
Giá trị giao dịch trung bình hàng ngày đạt 8,1 nghìn tỷ đồng, tăng 44% so với
tháng trước. Ngân hàng và Bất động sản dân cư tiếp tục là hai nhóm ngành dẫn
đầu về quy mô giao dịch.
Trong top 10 tổ chức phát hành có trái phiếu được giao dịch nhiều nhất tháng
7/2026:
CTCP Hàng không Vietjet vươn lên dẫn đầu với tổng giá trị giao dịch trong
tháng đạt 21.264 tỷ đồng (lũy kế từ đầu năm đạt 48.015 tỷ đồng). Tập đoàn
VINGROUP - CTCP xếp thứ hai với 12.734 tỷ đồng trong tháng (lũy kế đạt 49.916
tỷ đồng). CTCP Vinhomes đứng thứ ba với 11.238 tỷ đồng trong tháng (lũy kế đạt
71.563 tỷ đồng).
Về cấu trúc kỳ hạn giao dịch thứ cấp, khối lượng giao dịch tập trung cao nhất
ở kỳ hạn còn lại 2 năm (với hơn 50 nghìn tỷ đồng), tiếp theo là kỳ hạn dưới 1
năm và kỳ hạn 3 năm.
**Quyết toán nợ và diễn biến rủi ro chậm trả**
Một điểm sáng quan trọng được chuyên gia VIS Rating ghi nhận là tỷ lệ chậm trả
hàng năm (tính cho 12 tháng gần nhất) trong tháng 7/2026 tiếp tục giảm xuống
mức 0,29% (so với mức 0,30% của tháng 6 và giảm mạnh từ mức 0,56% ghi nhận vào
tháng 7/2025).

Trong tháng 7/2026, thị trường không phát sinh thêm giá trị TPDN chậm trả mới.
Tính từ đầu năm 2026 đến nay, thị trường ghi nhận 3 đợt chậm trả mới từ:
Công ty TNHH Phát triển kinh doanh xây dựng 3 (mã XD3CH2328001, chậm trả gốc
2.210 tỷ đồng vào ngày 20/06/2026). CTCP Thủy điện Thuận Hòa Hà Giang (mã
THHGH1730001, chậm trả lãi 497 tỷ đồng vào ngày 25/02/2026). CTCP Đầu tư TDG
Global (mã TDGH2326001, chậm trả gốc 40 tỷ đồng vào ngày 24/03/2026).
Xét về tổng dư nợ trái phiếu lưu hành toàn thị trường tính đến tháng 7/2026
đạt 1.487 nghìn tỷ đồng (tương đương 10,9% GDP danh nghĩa gần nhất). Trong đó,
89,8% dư nợ ở trạng thái bình thường; 3,3% đang chậm trả lãi và 6,8% ở trạng
thái chậm trả gốc và chưa khắc phục.

Về công tác xử lý và thu hồi nợ chậm trả, tỷ lệ thu hồi đối với trái phiếu
chậm trả trong năm 2026 của ngành Bất động sản dân cư đạt 55,5% (tăng so với
48,8% năm 2025 và 29,2% năm 2024). Tỷ lệ thu hồi chung đối với trái phiếu có
tài sản đảm bảo đạt mức gần 53% trong tháng 7/2026, vượt trội so với mức
khoảng 42% của nhóm không có tài sản đảm bảo.
Trong tháng 7/2026, nhiều doanh nghiệp bất động sản đã nỗ lực hoàn trả tiền
mặt cho trái chủ. Dẫn đầu danh sách hoàn trả nợ gốc chậm trả trong tháng là
CTCP Hưng Thịnh Land với giá trị tiền mặt đã hoàn trả đạt 1.645 tỷ đồng (dư nợ
trái phiếu còn lại 6.071 tỷ đồng). Tiếp theo là Công ty TNHH Phát triển kinh
doanh xây dựng 3 (hoàn trả 1.210 tỷ đồng), Công ty TNHH Dịch vụ và Tư vấn xây
dựng Anh Quân (500 tỷ đồng), CTCP Đầu tư và Xây dựng Sunrise Việt Nam (500 tỷ
đồng) và CTCP Dịch vụ Giải trí Hưng Thịnh Quy Nhơn (425 tỷ đồng).
**Áp lực đáo hạn trong 12 tháng tới**
Dữ liệu của VIS Rating chỉ ra rằng, tổng giá trị TPDN sẽ đáo hạn trong 12
tháng tới (từ tháng 8/2026 đến tháng 7/2027) là 242 nghìn tỷ đồng. Mức này
tăng lên so với con số 189 nghìn tỷ đồng của 12 tháng gần nhất.
Đỉnh điểm đáo hạn sẽ rơi vào tháng 12/2026 với 31 nghìn tỷ đồng và tháng
6/2027 với 38 nghìn tỷ đồng.

Trong nhóm ngân hàng: Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) có giá trị đáo hạn lớn nhất
12 tháng tới với 21.220 tỷ đồng (trên tổng 38.320 tỷ đồng trái phiếu đang lưu
hành), tiếp theo là Agribank (7.520 tỷ đồng) và Sacombank (5.000 tỷ đồng).
Trong nhóm doanh nghiệp phi ngân hàng: Tập đoàn VINGROUP - CTCP đứng đầu về áp
lực đáo hạn 12 tháng tới với 17.736 tỷ đồng (trên tổng 29.737 tỷ đồng lưu
hành); tiếp theo là Công ty TNHH Hưng Phát Invest Hà Nội (12.650 tỷ đồng);
Công ty TNHH ParkLand 53 (7.000 tỷ đồng); CTCP Phát triển Bất động sản Hưng
Long (7.000 tỷ đồng) và CTCP Đầu tư Phát triển Bất động sản TNR Holdings Việt
Nam (6.348 tỷ đồng).
Nhìn chung, thị trường TPDN tháng 7/2026 phản ánh bức tranh điều chỉnh về quy
mô phát hành sau tháng 6 tăng đột biến, song tính thanh khoản giao dịch thứ
cấp và năng lực xử lý nợ đọng của các tổ chức phát hành đang có những chuyển
biến mang tính tích cực.