🇻🇳 Vĩ mô VN🟢 Tích cực🔥 Tin nóng
Khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng – ngân hàng không thể “đơn thương độc mã”
[  ](/chuyen-gia/bai-viet-cua-chuyen- gia-pgsts-tran-hoang-ngan-42.chn "PGS.TS. Trần Hoàng Ngân") [ PGS.TS. Trần Hoàng Ngân ](/chuyen-gia/bai-viet-cua-chuyen-gia-pgsts-tran- hoang-ngan-42.chn "PGS.TS. Trần Hoàng Ngân") Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính Marketing 66 bài viết * 8 tháng qua điều hành chính sách tiền tệ đang đi đúng hướng. Tôi đánh giá cao điều hành chính tiền tệ c...
[  ](/chuyen-gia/bai-viet-cua-chuyen-
gia-pgsts-tran-hoang-ngan-42.chn "PGS.TS. Trần Hoàng Ngân")
[ PGS.TS. Trần Hoàng Ngân ](/chuyen-gia/bai-viet-cua-chuyen-gia-pgsts-tran-
hoang-ngan-42.chn "PGS.TS. Trần Hoàng Ngân")
Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính Marketing
**66** bài viết
* __8 tháng qua điều hành chính sách tiền tệ đang đi đúng hướng. Tôi đánh giá cao điều hành chính tiền tệ của NHNN.
Tại: [ Kiên định điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt](/kien-
dinh-dieu-hanh-chinh-sach-tien-te-than-trong-linh-hoat-20220913153513831.chn
"Kiên định điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt")
* __Trong bối cảnh kinh tế tăng trưởng nhanh, giá nguyên vật liệu trên thế giới tăng cao, dẫn đến chi phí kinh doanh tăng theo, nhu cầu vay vốn của DN tăng mạnh là tất yếu.
Tại: [ Mòn mỏi chờ cấp tín dụng](/mon-moi-cho-cap-tin-
dung-20220906114930423.chn "Mòn mỏi chờ cấp tín dụng")
**Điều hành để đạt được tổng thể hài hòa các mục tiêu**
Năm 2026, bối cảnh thế giới phức tạp với căng thẳng địa chính trị, nguy cơ đứt
gãy chuỗi cung ứng và biến động giá dầu khiến Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đối
mặt áp lực lớn về tỷ giá, lạm phát nhập khẩu và thanh khoản, làm hạn chế dư
địa nới lỏng chính sách tiền tệ để hỗ trợ tăng trưởng. Xung đột quốc tế kéo
dài làm gián đoạn chuỗi cung ứng và đẩy chi phí vận tải toàn cầu lên cao. Các
ngân hàng trung ương (NHTW) lớn phản ứng thận trọng, neo giữ lãi suất cao
(nhiều NHTW tăng lãi suất) gây sức ép lớn lên lãi suất, tỷ giá và thị trường
ngoại tệ trong nước. Xu hướng nhập siêu trong nước làm tăng nhu cầu ngoại tệ
phục vụ nhập khẩu, gây sức ép trực tiếp lên thị trường ngoại hối.
Trong bối cảnh đó, công tác điều hành chính sách tiền tệ của NHNN luôn đối mặt
với thách thức lớn khi phải xử lý hài hòa nhiều mục tiêu, có những mục tiêu
không thuận chiều nhau trong một nền kinh tế có độ mở lớn, chịu tác động trước
các cú sốc từ môi trường quốc tế.
Để hỗ trợ nền kinh tế bứt tốc tăng trưởng (đặc biệt là mục tiêu tăng trưởng
cao trong giai đoạn tới), có nhiều quan điểm ngân hàng cần nới lỏng dòng vốn
và hạ lãi suất. Tuy nhiên, việc bơm tiền quá nhanh, hạ chuẩn cấp tín dụng và
duy trì "tiền rẻ" sẽ trực tiếp kích thích lạm phát cơ bản và áp lực tăng giá
hàng hóa. Trước nhu cầu vốn lớn của nền kinh tế để phục vụ phát triển kinh tế,
NHNN phải khéo léo điều hành hài hòa các công cụ, chính sách để vừa kích hoạt
các gói tín dụng ưu đãi hỗ trợ nền kinh tế, vừa giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm
soát lạm phát.
Doanh nghiệp trong nước mong muốn được vay lãi suất "mềm" hơn để hạ chi phí
hoạt động, là mong muốn chính đáng, tuy nhiên lại là thách thức rất lớn cho hệ
thống ngân hàng trong bối cảnh các NHTW lớn vẫn điều hành thận trọng, neo giữ
lãi suất cao để kiểm soát lạm phát như đề cập ở trên; do đó lãi suất VND phải
duy trì ở mức hợp lý để huy động được nguồn vốn để cấp tín dụng cho nền kinh
tế, đồng thời tránh dòng vốn dịch chuyển ra nước ngoài, giảm áp lực mất giá
lên đồng Việt Nam. Do đó, điều hành lãi suất không thể tách rời tỷ giá. Điều
hành lãi suất phải đi đôi với việc củng cố niềm tin vào giá trị đồng nội tệ
nhằm tránh nhập khẩu lạm phát từ biến động tỷ giá.
Chính vì vậy thời gian qua, NHNN đã điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với
diễn biến thị trường, góp phần hấp thu cú sốc bên ngoài, phối hợp đồng bộ với
các công cụ chính sách tiền tệ khác và linh hoạt can thiệp thị trường, nhờ đó
thị trường ngoại tệ hoạt động thông suốt, tỷ giá ổn định; đồng Việt Nam tăng
giá nhẹ - là một trong số ít các đồng tiền trong khu vực Châu Á tăng giá,
trong khi hầu hết các đồng tiền của các nước khác mất giá từ 2%-6%.
**Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng đến sản xuất kinh doanh, các động lực tăng
trưởng**
Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng hai con số đặt ra yêu cầu lớn về nguồn
lực, hệ thống ngân hàng đã chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp về nguồn
vốn, lãi suất, điều kiện tiếp cận tín dụng, nhằm đẩy mạnh cung ứng tín
dụng cho nền kinh tế, hỗ trợ tăng trưởng gắn với kiểm soát lạm
phát.
Thực tế cho thấy, trước rất nhiều áp lực, NHNN đã rất nỗ lực giữ ổn định mặt
bằng lãi suất. Cùng với đó, hàng loạt các giải pháp nhằm khơi thông nguồn vốn,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đã được NHNN chỉ đạo triển khai như: cho phép 25
TCTD (kể từ ngày 1/1/2026 đến hết 31/12/2026) không phải tính dư nợ tín dụng
tăng thêm so với cuối năm 2025 đối với nhà ở xã hội và bất động sản (BĐS) khu
công nghiệp, khu chế xuất vào dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực BĐS khi kiểm
soát mức tăng trưởng tín dụng BĐS; có cơ chế hỗ trợ về tăng trưởng tín dụng để
các TCTD có thêm dư địa cấp tín dụng đối với khách hàng triển khai các dự án
có quy mô lớn, trọng điểm, có tính chất lan tỏa, liên kết, thúc đẩy phát triển
kinh tế vùng, địa phương; chỉ đạo, khuyến khích các NHTM triển khai Chương
trình tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hướng đến các động lực
tăng trưởng kinh tế với mức lãi suất áp dụng sẽ thấp hơn tối thiểu 1%/năm so
với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn mà ngân hàng đang áp dụng trong
từng thời kỳ
Không chỉ vậy, để mở rộng dư địa cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng, hỗ trợ
các dự án đầu tư lớn và thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng kinh tế, NHNN đã điều
chỉnh tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn
từ 30% lên 40% từ 01/7. Đặc biệt, để hỗ trợ thanh khoản và tạo thêm dư địa cân
đối vốn cho các TCTD, góp phần phát triển kinh tế; mới đây, NHNN đã điều chỉnh
tỷ lệ khấu trừ số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước khi tính tỷ lệ dư
nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) là 50% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho
bạc Nhà nước (có hiệu lực từ 1/8/2026 đến hết ngày 31/7/2028) thay vì mức 20%.
Việc cho phép đưa cấu phần này sâu hơn vào dòng chảy tín dụng giúp tối ưu hóa
nguồn lực tài chính công đang nhàn rỗi, biến dòng tiền ngân sách thành nguồn
lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh thông qua kênh cho vay thương mại.
Tính đến ngày 31/7/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,26 triệu tỷ
đồng, tăng 8,98% so với tháng cuối năm 2025. Cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ
cấu ngành kinh tế, vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất kinh
doanh (trong đó khoảng 77,3% dư nợ nền kinh tế phục vụ lĩnh vực sản xuất kinh
doanh); một số lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ chiếm tỷ trọng lớn _(lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm 21,79%, DNNVV
chiếm 20%)_ hoặc có tốc độ tăng trưởng cao _(xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng
công nghệ cao có tốc độ tăng trưởng lần lượt là 28,26%, 38,98%)_. Tín dụng đối
với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro tiếp tục được theo dõi chặt chẽ.
Theo đánh giá của Đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân, trong bối cảnh đầy khó
khăn, biến động, NHNN đã thể hiện được sự chủ động, linh hoạt trong điều hành
chính sách tiền tệ, tạo được "điểm cân bằng tương đối", hài hòa mục tiêu trong
việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, góp phần giữ vững ổn định
kinh tế vĩ mô và đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng. Điều hành chính sách
tiền tệ,~~~~ nỗ lực duy trì mặt bằng lãi suất và việc triển khai các chương
trình tín dụng của NHNN đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận.
**Thúc đẩy phát triển thị trường vốn để đảm bảo sự phát triển bền vững**
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số một cách bền vững, việc
khơi thông các nguồn lực là vô cùng quan trọng. Trong đó, cùng với vốn tín
dụng, Chính phủ cần thúc đẩy phát triển thị trường vốn trung, dài hạn để đáp
ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế. Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ cũng đã chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy
phát triển thị trường trái phiếu, chứng khoán… Tuy nhiên, việc phát triển các
thị trường này cũng cần có độ trễ. Do đó, trong ngắn hạn, dòng vốn tín dụng
vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Về phía NHNN cũng đã chủ động hoàn thiện hành lang pháp lý thông qua việc tham
mưu Chính phủ trình Quốc hội 03 dự án Luật sửa đổi bổ sung Luật NHNN Việt Nam,
Luật Phòng chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng. Trong đó, một trong
những nội dung đáng chú ý là quy định cho phép ngân hàng thương mại, tổ chức
tín dụng làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm trái phiếu doanh nghiệp.
Đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân cho rằng tuy chỉ một câu nhưng có ý nghĩa
lớn, góp phần cơ cấu lại thị trường tài chính Việt Nam. Theo đánh giá của Đại
biểu, dư nợ trong hệ thống ngân hàng thương mại hiện hơn 20 triệu tỷ đồng,
tương đương khoảng 145% GDP. Trong khi đó, định hướng vốn hóa thị trường chứng
khoán khoảng 100% GDP, hiện đạt 80%; thị trường trái phiếu doanh nghiệp định
hướng khoảng 25-30% GDP nhưng hiện mới khoảng 12% GDP.
Do đó, việc bổ sung chức năng cho ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài
sản bảo đảm trái phiếu doanh nghiệp sẽ góp phần nâng vai trò của thị trường
vốn, giảm gánh nặng cung ứng vốn đang tập trung lớn vào hệ thống ngân hàng.
Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước khi yêu cầu các ngân hàng thương mại phải giải
thích rõ cho khách hàng đâu là đại lý phát hành, đâu là bảo lãnh thanh toán
phát hành, đại lý quản lý tài sản bảo đảm để khách hàng không bị nhầm lẫn.
"Bài học về sự cố quản trị thị trường trái phiếu doanh nghiệp năm 2022 là rất
lớn", Đại biểu Trần Hoàng Ngân khẳng định.