🇻🇳 Vĩ mô VN🔴 Tiêu cực🔥 Tin nóng
Nâng cao năng lực tiếp cận và hấp thụ vốn
[  ](/chuyen-gia/bai-viet-cua-chuyen-gia-ts-can-van-luc-50.chn "TS Cấn Văn Lực") [ TS Cấn Văn Lực ](/chuyen-gia/bai-viet-cua-chuyen-gia-ts-can-van-luc-50.chn "TS Cấn Văn Lực") Chuyên gia tài chính ngân hàng 308 bài viết * Dư địa chính sách tiền tệ của NHNN hiện rất eo hẹp, nên rất khó giảm thêm lãi suất. Tại: [ Dư địa chính sách tiền tệ ngày càng eo hẹp, cần thị trường vốn "chia lửa"](/du-dia-chin...
[ 
](/chuyen-gia/bai-viet-cua-chuyen-gia-ts-can-van-luc-50.chn "TS Cấn Văn Lực")
[ TS Cấn Văn Lực ](/chuyen-gia/bai-viet-cua-chuyen-gia-ts-can-van-luc-50.chn
"TS Cấn Văn Lực")
Chuyên gia tài chính ngân hàng
**308** bài viết
* __Dư địa chính sách tiền tệ của NHNN hiện rất eo hẹp, nên rất khó giảm thêm lãi suất.
Tại: [ Dư địa chính sách tiền tệ ngày càng eo hẹp, cần thị trường vốn "chia
lửa"](/du-dia-chinh-sach-tien-te-ngay-cang-eo-hep-can-thi-truong-von-chia-
lua-188250910140427252.chn "Dư địa chính sách tiền tệ ngày càng eo hẹp, cần
thị trường vốn "chia lửa"")
* __Việc nghiên cứu và triển khai quản lý tiền KTS quốc gia là rất cần thiết
Tại: [ Quản lý, giao dịch tài sản số tại Việt Nam: Cấp thiết xây dựng khung
pháp lý phù hợp](/quan-ly-giao-dich-tai-san-so-tai-viet-nam-cap-thiet-xay-
dung-khung-phap-ly-phu-hop-188250526145712884.chn "Quản lý, giao dịch tài sản
số tại Việt Nam: Cấp thiết xây dựng khung pháp lý phù hợp")
**Nhận diện điểm nghẽn**
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong
7 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 2,13 triệu tỷ đồng, tăng 13,1% so với cùng kỳ
năm trước. Trong đó, khu vực ngoài nhà nước đạt 1,14 triệu tỷ đồng, chiếm
53,7%; khu vực nhà nước đạt 601.200 tỷ đồng, chiếm 28,3%; còn khu vực FDI đạt
384.400 tỷ đồng, chiếm 18%. Cơ cấu này cho thấy khu vực tư nhân đang là động
lực đầu tư lớn nhất của nền kinh tế nhưng khả năng tiếp cận các nguồn vốn
trung hạn và dài hạn vẫn còn nhiều hạn chế.
Bà Lâm Thúy Ái, Tổng Giám đốc Công ty CP Mebifarm, cho biết doanh nghiệp vừa
đầu tư nhà máy sản xuất trứng với tổng vốn khoảng 600 tỷ đồng. Phần lớn nguồn
vốn phải vay từ ngân hàng với lãi suất trung hạn 10,5%/năm. Chi phí vốn cao
tạo áp lực ngay từ giai đoạn đầu tư, làm tăng giá thành sản phẩm, kéo dài thời
gian hoàn vốn và hạn chế khả năng mở rộng sản xuất. Đây là thực trạng chung
của nhiều doanh nghiệp trong nước khi vận hành kinh doanh cơ bản phụ thuộc vào
tín dụng ngân hàng. Trong khi đó, trên thế giới có nhiều nguồn vốn khác nhau
như quỹ đầu tư, quỹ tín dụng, quỹ hưu trí, tín dụng xanh, các định chế tài
chính phát triển và quỹ đầu tư dài hạn sẵn sàng cấp vốn với chi phí thấp hơn
nếu doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn về quản trị và minh bạch. “Khi có
nhiều kênh dẫn vốn cùng tham gia, doanh nghiệp sẽ có thêm lựa chọn phù hợp với
từng giai đoạn phát triển, đồng thời thu hút mạnh hơn dòng vốn quốc tế, giảm
chi phí vốn cho khu vực sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng
cho tăng trưởng dài hạn”, ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp
TPHCM, nhấn mạnh.
Nhìn từ thực tiễn, ông Trần Ngọc Anh, Phó Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Trung tâm
Sài Gòn, nhìn nhận dù nhiều chính sách mới đã góp phần củng cố niềm tin của
cộng đồng doanh nghiệp nhưng khoảng cách giữa chính sách và thực thi vẫn còn
khá lớn. Hai điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là vốn và chuyển đổi số. Phần lớn
tài sản của doanh nghiệp siêu nhỏ nằm ở kinh nghiệm, uy tín và dòng tiền kinh
doanh, trong khi việc thẩm định tín dụng vẫn chủ yếu dựa trên tài sản thế
chấp, khiến nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận vốn đúng thời điểm cần mở rộng sản
xuất. Bên cạnh đó, chuyển đổi số vẫn là bài toán nan giải do thiếu nhân lực,
chi phí đầu tư lớn và chưa có nhiều giải pháp phù hợp với quy mô doanh nghiệp.
**Thay đổi để vươn mình**
Để tháo gỡ các điểm nghẽn này, theo ông Ngọc Anh cần phát triển quỹ bảo lãnh
tín dụng vi mô, đổi mới phương thức thẩm định theo hướng đánh giá dòng tiền và
hiệu quả kinh doanh; xây dựng các chương trình chuyển đổi số theo hướng “cầm
tay chỉ việc” cho từng nhóm doanh nghiệp; đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ
liệu giữa các cơ quan quản lý nhằm giảm chi phí tuân thủ, giúp doanh nghiệp
tiếp cận chính sách và nguồn vốn thuận lợi hơn.
Trong khi đó, đối với doanh nghiệp cần có sự thay đổi toàn diện mới có thể
“lớn lên”. Trên thực tế, những doanh nghiệp chủ động nâng chuẩn quản trị, minh
bạch tài chính và chuyển đổi xanh đang tiếp cận được các dòng vốn mới với chi
phí cạnh tranh hơn. Trường hợp tiêu biểu là Công ty CP Kho lạnh Kỷ Nguyên Mới
(NECS), đang vay nguồn vốn xanh từ Nam A Bank với lãi suất thấp hơn khoảng
2%-3% so với thông thường. Nguồn vốn được sử dụng đầu tư hệ thống kho lạnh tự
động, trong đó robot đảm nhiệm phần lớn hoạt động vận hành. Mô hình giúp doanh
nghiệp giảm tiêu thụ năng lượng, phát thải CO2, hạn chế thất thoát hàng hóa và
giảm phụ thuộc vào lao động trực tiếp trong môi trường kho lạnh. Doanh nghiệp
cũng đầu tư điện mặt trời áp mái, qua đó tiết giảm khoảng 25%-33% chi phí
điện. Đại diện doanh nghiệp này nhận xét, trở ngại lớn nhất khi tiếp cận vốn
xanh là các tiêu chuẩn rất khắt khe, không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng
được.

Về nguồn vốn xanh, ông Võ Hoàng Hải, Phó Tổng Giám đốc Nam A Bank, cho biết từ
đầu năm đến nay ngân hàng đã huy động khoảng 350 triệu USD vốn xanh từ các
định chế tài chính quốc tế và đã giải ngân hết. Nguồn vốn chủ yếu được phân bổ
cho các dự án điện mặt trời áp mái tại khu công nghiệp, kho lạnh, logistics
tiết kiệm năng lượng và nông nghiệp công nghệ cao đạt chứng nhận - những lĩnh
vực có dòng tiền ổn định và đáp ứng tiêu chí của các tổ chức tài chính quốc
tế.
Thực tế cho thấy các dòng vốn xanh luôn có nhu cầu tìm kiếm dự án phù hợp, vấn
đề là doanh nghiệp phải đáp ứng các tiêu chuẩn về quản trị, minh bạch và phát
triển bền vững. Để mở rộng khả năng tiếp cận vốn xanh, ông Võ Hoàng Hải đề
xuất phát triển mô hình tài trợ chuỗi cung ứng xanh, qua đó đưa nguồn vốn từ
các định chế tài chính phát triển đến doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chuỗi xuất
khẩu - nhóm chịu áp lực chuyển đổi xanh nhưng còn hạn chế khả năng tiếp cận
vốn quốc tế. Đồng thời, cần nghiên cứu hình thành sàn giao dịch tập trung đối
với trái phiếu xanh và tín chỉ carbon nhằm tăng thanh khoản, minh bạch hóa
giao dịch và mở thêm kênh huy động vốn cho các dự án chuyển đổi xanh.
Ở góc độ dài hạn, TS Cấn Văn Lực cho rằng doanh nghiệp phải đổi mới quyết
liệt, như tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo,
trí tuệ nhân tạo (AI), chuyển đổi số và chuyển đổi xanh nhằm nâng năng suất và
đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế. Điều này sẽ tạo
thành bệ phóng cho doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.