🇻🇳 Vĩ mô VN🔴 Tiêu cực🔥 Tin nóng
Chiến sự Iran thay đổi kinh tế toàn cầu thế nào?
Cuộc chiến Iran gây ra những cú sốc rõ rệt đối với kinh tế toàn cầu, từ giá năng lượng, chi phí vận tải đến áp lực lạm phát và lãi suất. Dù một số tác động có thể đảo ngược khi xung đột hạ nhiệt, cuộc chiến cũng đang tạo ra những thay đổi dài hạn trong chuỗi cung ứng, thị trường dầu mỏ và cách các nền kinh tế ứng phó với rủi ro địa chính trị. Iran kiểm soát eo biển Hormuz Trước chiến sự, tàu thuyền mang cờ của bất kỳ quốc gia nào cũng có thể tự do đi qua eo biển Hormuz để vận chuyển hàng hóa ...
[TIN MỚI](javascript:; "TIN MỚI")
Cuộc chiến Iran gây ra những cú sốc rõ rệt đối với kinh tế toàn cầu, từ giá
năng lượng, chi phí vận tải đến áp lực lạm phát và lãi suất. Dù một số tác
động có thể đảo ngược khi xung đột hạ nhiệt, cuộc chiến cũng đang tạo ra những
thay đổi dài hạn trong chuỗi cung ứng, thị trường dầu mỏ và cách các nền kinh
tế ứng phó với rủi ro địa chính trị.
**Iran kiểm soát eo biển Hormuz**
Trước chiến sự, tàu thuyền mang cờ của bất kỳ quốc gia nào cũng có thể tự do
đi qua eo biển Hormuz để vận chuyển hàng hóa đến và đi từ Trung Đông. Khoảng
1/5 lượng dầu của thế giới được vận chuyển qua tuyến hàng hải hẹp này mỗi
ngày.
Quan niệm về bên kiểm soát eo biển thay đổi hoàn toàn sau khi Mỹ và Israel tấn
công Iran vào cuối tháng 2. Iran tuyên bố eo biển thuộc quyền kiểm soát của
mình và tấn công các tàu cố gắng ra vào Vịnh Ba Tư. Việc eo biển trên thực tế
bị đóng cửa mang lại cho Iran đòn bẩy kinh tế đối với Mỹ và các đồng minh vùng
Vịnh, đồng thời khiến 13 triệu thùng dầu/ngày không thể cung cấp cho nền kinh
tế toàn cầu.

Trước chiến sự, tàu thuyền mang cờ của bất kỳ quốc gia nào cũng có thể tự do
đi qua eo biển Hormuz để vận chuyển hàng hóa. (Ảnh minh hoạ)
Đến tháng 5, Iran thay đổi chiến thuật tại eo biển. Thay vì tìm cách đóng cửa
hoàn toàn, nước này bắt đầu kiểm soát việc sử dụng tuyến hàng hải. Iran thành
lập Cơ quan Eo biển Vịnh Ba Tư và yêu cầu các tàu đi qua phải đăng ký với cơ
quan này, tuân thủ tuyến đường được cấp phép và trả phí để qua eo biển.
Sau khi ký một bản ghi nhớ với Mỹ vào tháng 6, Iran đồng ý ngừng thu phí trong
60 ngày, nhưng vẫn tiếp tục tấn công những tàu đi qua không đăng ký với cơ
quan nói trên.
Trong khi đó, sau khi trên thực tế từ bỏ bản ghi nhớ, quân đội Mỹ bắt đầu điều
phối và hộ tống các chuyến tàu “dark” vào ban đêm qua eo biển nhằm tăng xuất
khẩu dầu từ Vịnh Ba Tư và tránh các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái
của Iran.
Nỗ lực này phát huy hiệu quả, nhưng việc phải tiến hành một chiến dịch quy mô
lớn, tốn nhiều nguồn lực và chi phí cho thấy Iran gia tăng đáng kể ảnh hưởng
đối với eo biển Hormuz. _“Có vẻ Iran sẽ bước ra khỏi cuộc chiến với vị thế
mạnh hơn trong việc kiểm soát eo biển, và điều đó sẽ buộc các quốc gia phụ
thuộc vào dầu thô Trung Đông phải thích nghi”,_ Ross Mayfield, chiến lược gia
đầu tư tại Baird, nhận định.
_“Việc đóng cửa Hormuz chuyển từ một rủi ro giả định ở mức thấp thành một
chiến thuật được chứng minh là hiệu quả”._
Các nhà phân tích cho rằng một giải pháp cho xung đột có thể cho phép Iran thu
phí các tàu được bảo đảm an toàn khi qua eo biển Hormuz, làm dấy lên lo ngại
về tiền lệ đối với các tuyến hàng hải quốc tế.
Tuy nhiên, JPMorgan cho biết nhiều quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ, Đan Mạch, Thụy
Điển, Nga và Indonesia đã thu phí dịch vụ hàng hải; nếu Iran áp dụng mức tương
tự Thổ Nhĩ Kỳ, giá dầu có thể tăng khoảng 1 USD/thùng, với một tàu chở dầu lớn
phải trả khoảng 260.000 USD cho chuyến khứ hồi.
**Nhu cầu dầu mỏ có thể giảm lâu dài**
Trung Quốc không phải là nước sản xuất nhiều dầu, nhưng cuộc chiến Iran chứng
minh nước này là một trong những lực lượng có ảnh hưởng lớn nhất trên thị
trường dầu mỏ. Theo Joe Brusuelas, nhà kinh tế trưởng của công ty RSM US, lý
do là Trung Quốc cho thấy khả năng đặc biệt trong việc điều chỉnh nhu cầu tiêu
thụ.
Việc Trung Quốc có lượng dầu dự trữ khổng lồ được tích lũy trước chiến sự giúp
nước này giảm mạnh nhập khẩu dầu thô, khoảng 5 triệu thùng/ngày.
Dù đến một thời điểm nào đó, Trung Quốc sẽ phải bổ sung lại các kho dự trữ và
nhu cầu dầu sẽ tăng trở lại. Tuy nhiên, một số thay đổi trong hành vi tiêu
dùng của người Trung Quốc có thể trở thành xu hướng lâu dài.
Chẳng hạn, trong kỳ nghỉ lễ Quốc tế Lao động kéo dài 5 ngày vào tháng 5, lượng
sạc xe điện trên các tuyến cao tốc Trung Quốc tăng 55,6% so với cùng kỳ năm
trước, theo Bộ Giao thông Vận tải Trung Quốc. Trong thời gian nghỉ lễ, gần 1/4
số ô tô lưu thông trên các tuyến cao tốc là xe điện, tăng 33% so với một năm
trước.
Trung Quốc cũng có thể nhanh chóng chuyển từ các nhà máy điện chạy bằng dầu và
khí đốt sang than đá, cho thấy khả năng chống chịu chưa từng có trước một cú
sốc dầu mỏ.

Nguồn cung giảm dẫn đến nhu cầu dầu giảm. (Ảnh minh hoạ)
Ngoài ra, nhu cầu dầu sụt giảm mạnh trong chiến sự - nhiều hơn đáng kể so với
dự báo của các nhà phân tích ngành dầu mỏ - cho thấy thế giới có khả năng linh
hoạt trong việc sử dụng dầu hơn những gì trước đây người ta từng nghĩ.
Trong tổng số 1,9 tỷ thùng dầu thô Trung Đông mà thị trường mất đi trong suốt
cuộc chiến, khoảng 800 triệu thùng, tương đương gần một nửa, được bù đắp bằng
việc người dân và doanh nghiệp giảm tiêu thụ dầu, theo JPMorgan.
_“Lịch sử cho thấy những cú sốc dầu mỏ trước đây thường dẫn tới sự sụt giảm
nhu cầu xăng dầu kéo dài, và lần này có thể cũng không phải ngoại lệ”,_ bà
Kaneva nhận định.
**Sản lượng dầu bên ngoài Trung Đông tăng mạnh**
Một điều chỉnh đáng kể khác trong cuộc chiến Iran là việc sản lượng dầu tăng
nhanh từ những nguồn cung không được dự đoán trước. Andy Lipow, Chủ tịch Lipow
Oil Associates, cho biết hoạt động thăm dò và phát triển năng lượng thay thế
bên ngoài Trung Đông đang gia tăng, trong khi các dự án dầu hiện hữu cũng đẩy
mạnh khoan khai thác.
Theo JPMorgan, Brazil, Guyana, Canada và Na Uy lần lượt tăng sản lượng dầu
thêm 800.000, 300.000, 200.000 và 150.000 thùng/ngày. Mỹ cũng tăng thêm
900.000 thùng/ngày so với cùng kỳ năm trước, trong khi Brazil và Guyana được
kỳ vọng tiếp tục đẩy mạnh khai thác.

(Ảnh minh hoạ)
Các nhà sản xuất Trung Đông cũng tìm cách thích ứng bằng cách mở rộng tuyến
vận chuyển thay thế. Saudi Arabia tận dụng đường ống Đông-Tây và vận chuyển
dầu qua đường bộ tới Biển Đỏ, trong khi Iraq đàm phán xây đường ống tới Địa
Trung Hải.
Những biến động này diễn ra trong lúc OPEC đối mặt sức ép lớn sau khi UAE
tuyên bố rời tổ chức. Iraq cũng muốn nâng sản lượng lên 5 triệu thùng/ngày sau
chiến sự và 7 triệu thùng/ngày trong dài hạn, qua đó có thể làm gia tăng nguồn
cung toàn cầu, kéo giá dầu xuống nhưng đồng thời gây nguy cơ dư cung kéo dài.