🇻🇳 Vĩ mô VN🟡 Trung lập
Ngân hàng vẫn gánh vốn dài hạn, cần sự “chia lửa” của thị trường vốn
Tín dụng trung, dài hạn tăng tốc, ngân hàng được mở thêm dư địa vốn Cùng với mục tiêu tăng trưởng tín dụng hai chữ số, nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế đang tăng nhanh hơn đáng kể so với tín dụng ngắn hạn, buộc các ngân hàng phải điều chỉnh cơ cấu kỳ hạn cho vay. Báo cáo của S&I Ratings cho thấy trong nửa đầu năm 2026, tín dụng trung và dài hạn tiếp tục tăng nhanh hơn tín dụng ngắn hạn trong quý thứ năm liên tiếp. Cụ thể, dư nợ trung và dài hạn tăng 11,1%, trong khi tín dụng ngắn ...
[TIN MỚI](javascript:; "TIN MỚI")
**Tín dụng trung, dài hạn tăng tốc, ngân hàng được mở thêm dư địa vốn**
Cùng với mục tiêu tăng trưởng tín dụng hai chữ số, nhu cầu vốn trung và dài
hạn của nền kinh tế đang tăng nhanh hơn đáng kể so với tín dụng ngắn hạn, buộc
các ngân hàng phải điều chỉnh cơ cấu kỳ hạn cho vay.
Báo cáo của S&I Ratings cho thấy trong nửa đầu năm 2026, tín dụng trung và dài
hạn tiếp tục tăng nhanh hơn tín dụng ngắn hạn trong quý thứ năm liên tiếp. Cụ
thể, dư nợ trung và dài hạn tăng 11,1%, trong khi tín dụng ngắn hạn tăng 6,9%.
Theo đơn vị phân tích, sự dịch chuyển này cũng góp phần hạn chế tốc độ suy
giảm biên lãi ròng (NIM) tại các ngân hàng trong bối cảnh chi phí huy động vốn
gia tăng.
Xu hướng tương tự được Chứng khoán Yuanta ghi nhận. Tính đến ngày 22/8, tăng
trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 9%, trong đó tín dụng trung và dài hạn
chiếm tới 48,5%. Bức tranh rõ hơn khi nhìn vào báo cáo tài chính quý II của
các ngân hàng. Trong nửa đầu năm 2026, dư nợ cho vay trung hạn tăng 11%, lên
hơn 2,19 triệu tỷ đồng, nâng tỷ trọng lên 14,2% tổng dư nợ. Dư nợ cho vay dài
hạn tăng 11,2%, lên hơn 5,1 triệu tỷ đồng, đưa tỷ trọng từ 32,4% cuối năm 2025
lên 33,1%. Tính chung, cho vay trung và dài hạn đã chiếm 47,3% tổng dư nợ toàn
ngành, tăng 0,9 điểm phần trăm so với cuối năm 2025.

Phát triển thị trường vốn trở thành yêu cầu cấp thiết để san sẻ gánh nặng tài
trợ dài hạn cho hệ thống ngân hàng, ảnh: ST
Giới phân tích cho rằng tín dụng trung và dài hạn còn nhiều khả năng tiếp tục
tăng trong thời gian tới, khi ngân hàng cho vay các dự án lớn, dự án trọng
điểm.
Trước mắt, để tháo gỡ khó khăn, NHNN đã triển khai các công cụ nhằm tạo thêm
dư địa cho tổ chức tín dụng. Một trong những chính sách đáng chú ý là Thông tư
số 25/2026/TT-NHNN, nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho
vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, áp dụng từ đầu quý III/2026.
Theo bà Vũ Diệu Hà, chuyên viên phân tích Công ty Chứng khoán KB Việt Nam
(KBSV), việc nới trần giúp các ngân hàng có thể sử dụng nhiều hơn nguồn vốn
ngắn hạn với chi phí thấp để tài trợ cho danh mục tín dụng trung và dài hạn.
Qua đó, các nhà băng có thể giảm bớt áp lực phải huy động vốn kỳ hạn dài hoặc
phát hành giấy tờ có giá với chi phí cao hơn, đồng thời tạo điều kiện cải
thiện NIM.
Bên cạnh đó, NHNN đang xây dựng dự thảo Thông tư quy định điều kiện, hồ sơ và
thủ tục cấp tín dụng vượt giới hạn cho các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn
Thủ đô. Theo dự thảo, mức cấp tín dụng tối đa đối với một khách hàng có thể
lên tới 38% vốn tự có của ngân hàng thương mại; với một khách hàng và người có
liên quan, mức tối đa là 52%. Đây là các ngưỡng cao hơn đáng kể so với giới
hạn áp dụng đối với hoạt động cấp tín dụng thông thường.
TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV cho rằng nhu cầu vốn của Việt
Nam sẽ tăng mạnh trong giai đoạn tới. Theo tính toán của Viện Nghiên cứu Kinh
tế BIDV, từ nay đến năm 2030, tổng nguồn vốn của nền kinh tế cần tăng bình
quân khoảng 13% mỗi năm; trong giai đoạn 2031-2045, mức tăng cần duy trì
khoảng 10%/năm. Trong khi đó, cơ cấu cung ứng vốn hiện vẫn phụ thuộc lớn vào
tín dụng ngân hàng.
Theo TS. Cấn Văn Lực, tín dụng đang chiếm khoảng 50-51% tổng nguồn vốn của nền
kinh tế, trong khi thị trường cổ phiếu đóng góp khoảng 6,4%, trái phiếu doanh
nghiệp khoảng 7%, đầu tư công 12-15% và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
khoảng 12%. Với cơ cấu này, trong ngắn và trung hạn, ngân hàng khó có thể rời
vai trò là kênh cung ứng vốn chủ đạo. Vấn đề đặt ra là dư địa của hệ thống
ngân hàng không phải vô hạn, đặc biệt khi nhu cầu vốn dài hạn ngày một lớn.
**Phát triển thị trường vốn để giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng**
Sự phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng đang tạo ra một nghịch lý về kỳ hạn,
ngân hàng phải đáp ứng ngày càng nhiều nhu cầu vay vốn dài hạn trong khi nguồn
tiền huy động chủ yếu vẫn là ngắn hạn.
Ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup và FiinRatings, nhận định với quy
mô nhu cầu vốn hiện nay, hệ thống ngân hàng khó có thể đáp ứng đầy đủ nguồn
vốn dài hạn cho nền kinh tế. Thống kê cho thấy khoảng 90% tiền gửi của khách
hàng trong hệ thống có kỳ hạn dưới 12 tháng, trong khi các dự án hạ tầng, năng
lượng và sản xuất thường cần nguồn vốn kéo dài từ nhiều năm tới hàng chục năm.
Việc sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho các nhu cầu dài hạn không chỉ
làm gia tăng chênh lệch kỳ hạn trên bảng cân đối mà còn đặt hệ thống ngân hàng
trước áp lực lớn hơn về thanh khoản và quản trị rủi ro.
Ông Bùi Hoàng Hải, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), cũng cho
rằng nền kinh tế cần phát triển đồng bộ nhiều kênh dẫn vốn thay vì phụ thuộc
vào một kênh duy nhất. Theo ông Hải, tỷ lệ tín dụng hiện tương đương khoảng
146% GDP chưa phải là vấn đề quá lớn nếu so sánh với nhiều quốc gia. Tuy
nhiên, điểm đáng lưu ý là hệ số an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng Việt Nam
hiện khoảng 12%, thấp hơn mức phổ biến 15-18% tại nhiều thị trường. Cùng với
đó là sự lệch pha giữa nguồn vốn huy động chủ yếu có kỳ hạn ngắn với nhu cầu
vay trung và dài hạn ngày càng lớn.
Đây là một trong những lý do thị trường vốn cần được phát triển mạnh hơn để
đảm nhận đúng chức năng cung ứng vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp cũng
như nền kinh tế. Khi thị trường trái phiếu, chứng khoán và các quỹ đầu tư phát
triển thực chất hơn, doanh nghiệp và các dự án hạ tầng sẽ có thêm kênh huy
động nguồn lực dài hạn phù hợp với vòng đời đầu tư. Khi đó, ngân hàng không
còn là “điểm đến cuối cùng” cho mọi nhu cầu vốn. Áp lực tập trung tín dụng vào
một số ngành, lĩnh vực cũng có thể được giảm bớt, qua đó góp phần cải thiện
chất lượng bảng cân đối và mức độ an toàn của hệ thống.
Ở chiều ngược lại, các ngân hàng có điều kiện tập trung nguồn lực vào những
lĩnh vực phù hợp hơn với đặc thù huy động vốn và năng lực quản trị rủi ro của
mình, thay vì phải đảm nhiệm quá lớn chức năng cung cấp vốn dài hạn cho nền
kinh tế. Việc đa dạng hóa các nguồn vốn vì vậy không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu
tăng trưởng mà còn là một phần quan trọng của quá trình tái cấu trúc thị
trường tài chính theo hướng cân bằng hơn giữa tín dụng ngân hàng và các kênh
vốn trực tiếp.
Một động lực mới đang xuất hiện từ thị trường chứng khoán. Việc FTSE Russell
công bố nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ thị trường cận biên lên
thị trường mới nổi thứ cấp, với thời điểm có hiệu lực từ ngày 21/9/2026, được
kỳ vọng mở thêm không gian thu hút dòng vốn quốc tế. Theo SSI Research, việc
nâng hạng có thể kích hoạt khoảng 1,45 tỷ USD dòng vốn thụ động, với hàng chục
doanh nghiệp Việt Nam có khả năng được đưa vào các rổ chỉ số thị trường mới
nổi của FTSE.
Ngoài ra, định hướng giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng cũng đã được
đặt ra. Theo Quyết định số 1413/QĐ-TTg ngày 27/7/2026 phê duyệt Đề án Cải cách
tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng
ở mức cao, liên tục đến năm 2045, thị trường tài chính Việt Nam được định
hướng phát triển ở trình độ cao hơn, vận hành đầy đủ theo nguyên tắc thị
trường với hệ thống hạ tầng và cơ chế giám sát tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Trong cấu trúc đó, thị trường chứng khoán được xác định là kênh huy động vốn
trung và dài hạn chủ lực; hệ thống ngân hàng phát triển theo hướng an toàn,
hiệu quả; còn thị trường bảo hiểm đóng vai trò ngày càng lớn trong bảo đảm an
sinh và tích lũy nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế.
Theo các chuyên gia, điểm then chốt là phát triển một thị trường vốn đủ sâu,
rộng và minh bạch để chứng khoán, trái phiếu, bảo hiểm và các quỹ đầu tư thực
sự chia sẻ chức năng cung ứng vốn dài hạn. Khi đó, hệ thống ngân hàng và thị
trường vốn mới có thể cùng trở thành hai trụ cột cân bằng, bổ trợ cho nhau
trong việc đáp ứng nhu cầu nguồn lực ngày càng lớn của nền kinh tế.