🌍 Vĩ mô TG🟡 Trung lập🔥 Tin nóng
Đánh giá tác động việc Fed tăng lãi suất đối với kinh tế - tài chính toàn cầu và Việt Nam và khuyến nghị
[  ](/chuyen-gia/bai-viet-cua-chuyen-gia-ts-can-van-luc-va-nhom-tac-gia-vien-dao- tao-va-nghien-cuu-bidv-76.chn "TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV") [ TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV ](/chuyen- gia/bai-viet-cua-chuyen-gia-ts-can-van-luc-va-nhom-tac-gia-vien-dao-tao-va- nghie...
[ 
](/chuyen-gia/bai-viet-cua-chuyen-gia-ts-can-van-luc-va-nhom-tac-gia-vien-dao-
tao-va-nghien-cuu-bidv-76.chn "TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và
Nghiên cứu BIDV")
[ TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV ](/chuyen-
gia/bai-viet-cua-chuyen-gia-ts-can-van-luc-va-nhom-tac-gia-vien-dao-tao-va-
nghien-cuu-bidv-76.chn "TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên
cứu BIDV")
Nhóm chuyên gia
**103** bài viết
_LTS: TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo & Nghiên cứu BIDV vừa công
bố báo cáo Đánh giá tác động việc Fed tăng lãi suất đối với kinh tế - tài
chính toàn cầu và Việt Nam và khuyến nghị. Chúng tôi xin đăng tải nguyên văn
báo cáo để quý độc giả tiện theo dõi._
**Đặt vấn đề**
Quyết định ngày 16/9/2026 của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất điều
hành thêm **0,25 điểm %,** lần đầu tiên sau hơn 3 năm, đánh dấu sự thay đổi
đáng chú ý trong định hướng chính sách tiền tệ của Mỹ và có thể làm thay đổi
kỳ vọng về mặt bằng lãi suất, tỷ giá, dòng vốn và chi phí vốn toàn cầu trong
thời gian tới, trong đó có nền kinh tế mở như Việt Nam.
Trên cơ sở đó, Báo cáo này tập trung vào **3 nội dung chính** : (**i)** quyết
định của Fed, triển vọng chính sách và phản ứng của thị trường quốc tế;
**(ii)** tác động đối với kinh tế - tài chính thế giới và Việt Nam; và
**(iii)** một số khuyến nghị.
**Quyết định của FED và dự báo xu hướng lãi suất điều hành**
Ngày 16/9/2026, Fed tăng lãi suất điều hành **từ 3,50-3,75% lên 3,75-4%.** Đây
là lần tăng đầu tiên sau hơn 3 năm và đảo chiều so với giai đoạn nới lỏng
2024-2025 (khi Fed đã hạ tổng cộng 1,75 điểm % sau 6 lần hạ lãi suất). Quyết
định được đưa ra trong bối cảnh hoạt động kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng khá
(khoảng **2,3%** năm 2026 từ 2,1% năm 2025), tiêu dùng trong nước vẫn tăng
tích cực, năng suất và đầu tư tăng mạnh (nhất là AI, dữ liệu, bán dẫn, năng
lượng và quốc phòng…), việc làm được duy trì (tỷ lệ thất nghiệp ở mức 4,1%).
Tuy nhiên, **lạm phát tăng và neo cao,** với lạm phát toàn phần của Mỹ hết
8T.2026 là **3,4%** so với cùng kỳ**,** lạm phát tiêu dùng cá nhân (PCE) hết
8T.2026 là **3,7% YoY,** khá xa mục tiêu 2%, cùng với bất ổn địa chính trị kéo
dài, ảnh hưởng tới giá năng lượng, logistics và nhiều lĩnh vực liên quan khác.
Các dự báo lớn cho thấy **Fed có thể còn tăng lãi suất 1 lần nữa** (kỳ họp
tháng 12/2026), lên **4-4,25%,** sau đó duy trì ổn định trong năm 2027, trước
khi có thể bắt đầu hạ lãi suất từ đầu năm 2028 (theo tổng hợp của Reuters).

**Phản ứng của các thị trường tài chính và hàng hóa quốc tế**
Mức tăng 0,25 điểm % đã được thị trường dự báo trước, nhưng tín hiệu Fed có
thể tiếp tục thắt chặt tiền tệ (tăng lãi suất) khiến phản ứng sau cuộc họp
nghiêng theo hướng phòng thủ: USD tăng, lợi suất trái phiếu tăng, trong khi
chứng khoán và vàng giảm nhẹ.
Kết phiên ngày 16/9, chỉ số USD tăng 0,63% lên 100,3 điểm; lợi suất trái phiếu
Chính phủ Mỹ kỳ hạn 2 năm tăng 7,5 điểm cơ bản lên 4,74%; chỉ số chứng khoán
Dow Jones giảm 1,21%, S&P 500 giảm 0,45%, Nasdaq giảm nhẹ (-0,01%); vàng giao
ngay giảm 0,7% xuống 4.263 USD/ounce. Giá dầu Brent giảm 2,7% xuống còn 105,83
USD/thùng, chủ yếu là do e ngại tăng trưởng kinh tế yếu đi và nhu cầu năng
lượng giảm theo.
**Tác động Fed tăng lãi suất đối với kinh tế - tài chính thế giới và Việt
Nam**
** _Đối với kinh tế - tài chính thế giới_**
Tác động của việc tăng lãi suất lần này không nằm ở mức 0,25 điểm %, vốn đã
được thị trường dự báo trước, mà ở tín hiệu sắp tới như thế nào và lãi suất
USD có thể neo cao lâu hơn. Dự báo tháng 9 cho thấy 16/18 thành viên FOMC đặt
mức lãi suất cuối năm 2026 cao hơn mức hiện tại, trong đó 12 thành viên tập
trung ở 4,125%, tương ứng thêm một lần tăng 0,25 điểm % vào tháng 12/2026.
Theo đó, tác động đối với kinh tế - tài chính toàn cầu chủ yếu qua **4 kênh
chính** :
**_i) Mặt bằng lãi suất và chi phí vốn toàn cầu tiếp tục tăng và neo cao_**
Tác động trực tiếp nhất của quyết định tăng lãi suất của Fed là khiến **mặt
bằng lãi suất USD và chi phí vốn toàn cầu bằng USD tăng và neo cao**. Sau
quyết định ngày 16/9, lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ tăng, đặc biệt ở các kỳ
hạn ngắn, vốn dĩ nhạy cảm với chính sách tiền tệ; lợi suất trái phiếu Chính
phủ Mỹ kỳ hạn 2 năm tăng lên 4,74% và kỳ hạn 10 năm ở mức 5%...v.v.
Do lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ là mốc tham chiếu quan trọng của hệ thống
tài chính toàn cầu, **lợi suất này tăng sẽ truyền dẫn làm tăng chi phí vay vốn
bằng USD của Chính phủ, doanh nghiệp và người dân tại nhiều nền kinh tế, trong
đó có Việt Nam**. Ngoài ra, do lạm phát toàn cầu tăng và neo cao, một số NHTW
lớn khác (như ECB, BOE, BOJ…) đã tăng lãi suất, khiến chi phí vay vốn ngoại tệ
nói chung bị tăng lên. Tác động mạnh hơn đối với các chủ thể có **nhu cầu tái
cấp vốn lớn, tỷ lệ nợ cao hoặc phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn ngoại tệ.**
**_ii) Đồng USD tăng giá, gia tăng sức ép lên tỷ giá và nghĩa vụ nợ bằng ngoại
tệ_**
Lãi suất điều hành tăng khiến USD tăng giá (tức là tỷ giá tăng), gia tăng áp
lực mất giá đồng nội tệ, khiến nghĩa vụ nợ bằng USD (và một số ngoại tệ liên
quan khác) khi quy đổi sang nội tệ tăng. Lưu ý, với các nước nhập khẩu ròng
năng lượng (trong đó có Việt Nam), đồng USD mạnh lên trong khi giá năng lượng
duy trì ở mức cao tạo ra tác động kép: **giá hàng hóa quốc tế cao hơn và tỷ
giá bất lợi hơn,** từ đó làm gia tăng lạm phát nhập khẩu, **tác động một phần
lên lạm phát trong nước.**
**_iii) Tăng trưởng và thương mại toàn cầu chịu sức ép giảm từ phía cầu và chi
phí_**
Tác động của chính sách tiền tệ thường có độ trễ, nhưng nếu lãi suất tại Mỹ
duy trì ở mức cao trong thời gian dài, **cầu tiêu dùng và đầu tư tại Mỹ cũng
như các nền kinh tế có điều kiện tài chính liên thông sẽ chịu ảnh hưởng rõ
hơn**.
Lãi suất tăng và neo cao làm tăng chi phí vay mua nhà, ô tô, tiêu dùng và đầu
tư của doanh nghiệp và người dân. Qua đó, nhu cầu đối với hàng hóa, dịch vụ
(trừ một số mặt hàng rất thiết yếu), bất động sản và đầu tư máy móc, thiết bị
có thể giảm. Đối với thương mại thế giới, sự suy giảm nhu cầu tại Mỹ khiến
xuất khẩu (trong đó có Việt Nam) chịu ảnh hưởng giảm theo.
Đồng thời, kinh tế thế giới năm 2026 còn đối mặt với **cú sốc từ phía cung**
khi giá dầu hiện đang ở mức trên 100 USD/thùng (bình quân cả năm là 91
USD/thùng, từ mức 69 USD/thùng năm 2025) trong bối cảnh căng thẳng tại Trung
Đông kéo dài. Khi đó, các nền kinh tế phải đồng thời chịu 2 sức ép: **_(i)_**
mặt bằng **lãi suất** duy trì ở mức **cao, làm tăng chi phí vay** của hộ gia
đình và doanh nghiệp, qua đó **hạn chế nhu cầu tiêu dùng, đầu tư** và các
quyết định **mở rộng sản xuất** ; **_(ii)_** **giá năng lượng cao** làm gia
**tăng chi phí đầu vào, vận tải và logistics** , từ đó làm tăng **giá thành
sản xuất và giá tiêu dùng**.
**_iv) Thị trường tài chính biến động mạnh và dòng vốn có xu hướng dịch chuyển
về tài sản an toàn với lợi suất cao_**
Sau quyết định của Fed, thị trường tài chính toàn cầu biến động đáng kể. Trong
phiên 16/9, chỉ số USD tăng 0,63%; lợi suất TPCP Mỹ kỳ hạn 2 năm tăng 7,5 điểm
cơ bản lên 4,74% và kỳ hạn 10 năm tăng 2,45 điểm cơ bản lên 5%; trong khi các
chỉ số chứng khoán chính giảm (Dow Jones và S&P 500 lần lượt giảm 1,21% và
0,45%), giá vàng giao ngay giảm 0,69% xuống 4.263 USD/ounce…v.v.
Dòng vốn có xu hướng dịch chuyển về các tài sản an toàn như TPCP, hay về các
thị trường ít rủi ro hơn, lãi suất tăng cao trở lại (như Mỹ, Châu Âu…). Tuy
nhiên, dòng vốn không nhất thiết rút đồng loạt khỏi các thị trường mới nổi mà
có xu hướng phân hóa, phụ thuộc nhiều vào triển vọng tăng trưởng, nền tảng vĩ
mô, chênh lệch lợi suất và triển vọng lợi nhuận; các nền kinh tế thâm hụt
thương mại lớn, thâm hụt ngân sách lớn, nợ công cao, dự trữ ngoại hối thấp
hoặc phụ thuộc nhiều vào vốn bên ngoài chịu rủi ro cao hơn.
**_Tác động đối với kinh tế - tài chính Việt Nam_**
Việt Nam là nền kinh tế có độ mở lớn, phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, dòng vốn
quốc tế, hợp tác kinh tế - thương mại lớn với Mỹ ngày càng sâu rộng, nên thay
đổi lãi suất và điều kiện tài chính tại Mỹ tác động đáng kể tới kinh tế - tài
chính trong nước.
**_Xuất khẩu có thể chịu ảnh hưởng đáng kể_**
Mỹ là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch đạt
153,2 tỷ USD năm 2025 và 122 tỷ USD trong 8 tháng năm 2026 (chiếm 32% tổng kim
ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam). Trong ngắn hạn, sức cầu của Mỹ vẫn
được duy trì, nhưng lãi suất cao kéo dài có thể làm tiêu dùng và đầu tư tại Mỹ
chậm lại, từ đó ảnh hưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ. Đồng thời, lãi suất
tại một số thị trường khác (như EU, Nhật Bản, Hàn Quốc…) tăng lên như nêu
trên, cũng sẽ làm giảm tổng cầu hàng xuất khẩu của Việt Nam, khiến xuất khẩu
khó duy trì đà tăng mạnh như thời gian qua (tăng 22,5%). Cùng với đà giảm nhập
khẩu của các doanh nghiệp nước ngoài khi họ tăng sử dụng hàng tích trữ từ nhập
khẩu thời gian qua, đà xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam chịu áp lực giảm (dự
báo cả năm 2026 tăng **16-18%,** từ mức tăng 22,5% của 8 tháng đầu năm).
**_Áp lực lên tỷ giá USD/VND gia tăng nhưng không nhiều_**
Đến hết ngày 16/9, tỷ giá trung tâm tăng 2%, tỷ giá USD/VND liên ngân hàng
giảm **1,2%,** tỷ giá USD/VND tự do giảm 3,9% so với đầu năm. Diễn biến tỷ giá
từ đầu năm đến nay tương đối thuận lợi chủ yếu là do: (i) mặt bằng lãi suất
các kỳ hạn của VND đều cao hơn lãi suất USD, làm tăng sức hấp dẫn của việc nắm
giữ VND; (ii) sau nhiều năm trả nợ nước ngoài ròng thì đến năm 2026, Việt Nam
đã quay trở lại vay ròng ngoại tệ trong năm 2026, giúp bù đắp nguồn cung ngoại
tệ trong nước; (iii) chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới giảm, hoạt
động nhập lậu vàng giảm, làm giảm nhu cầu ngoại tệ.
Với đợt tăng lãi suất này (phù hợp với kỳ vọng thị trường), áp lực lên tỷ giá
USD/VND là không nhiều do chênh lệch lãi suất VND-USD vẫn ở mức dương (bình
quân khoảng 0,5 điểm %). Tuy nhiên, nếu Fed có thêm 01 đợt tăng lãi suất vào
tháng 12/2026 thì sẽ làm chênh lệch lãi suất VND-USD giảm, đồng USD tăng giá
trên thị trường quốc tế, tạo áp lực nhất định lên tỷ giá USD/VND. Diễn biến tỷ
giá USD/VND thời gian tới phụ thuộc chủ yếu vào lộ trình tăng lãi suất của
Fed, cán cân thương mại và dòng vốn quốc tế. Dự báo tỷ giá USD/VND năm 2026
tăng khoảng **0-0,5%** so với cuối năm 2025 và năm 2027 tăng khoảng 1-2% so
với năm 2026.
**_Dư địa giảm lãi suất trong nước trở nên khó khăn hơn_**
NHNN hiện giữ lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5%/năm, trong khi lãi suất tiền gửi
kỳ hạn 6-12 tháng tại nhiều ngân hàng ở mức 7-9%/năm. Mặt bằng lãi suất chịu
áp lực tăng từ quý IV/2025 đến hết quý I/2026, đang ổn định từ đầu quý II/2026
đến nay, lãi suất cho vay giảm nhẹ ở một số gói tín dụng, một số đối tượng
khách hàng và lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, do lãi suất USD và một số ngoại tệ
khác tăng, khiến dư địa giảm lãi suất cho vay trong ngắn hạn trở nên khó khăn
hơn, nhất là nếu Fed tiếp tục tăng lãi suất vào cuối năm 2026. Vì vậy, việc đa
dạng hóa nguồn vốn và phân bổ vốn hiệu quả lại càng quan trọng đối với cả bên
vay và bên cho vay.
**_Áp lực lạm phát và chi phí trả nợ ngoại tệ tăng nhẹ_**
Fed tăng lãi suất có thể tác động đến lạm phát Việt Nam chủ yếu qua 2 kênh:
(i) USD mạnh lên làm tăng chi phí nhập khẩu (tăng "lạm phát nhập khẩu"), chưa
tính đến truyền dẫn từ tỷ giá tăng sang lạm phát (không nhiều do tỷ giá chỉ
tăng nhẹ như nêu trên); (ii) giá năng lượng thế giới neo cao, làm tăng chi phí
nhiên liệu, vận tải và sản xuất, qua đó tạo áp lực lên giá thành hàng hóa và
dịch vụ. Rủi ro này đáng lưu ý khi CPI tháng 8/2026 đã tăng 0,47% so với tháng
trước và tăng 4,89% so với cùng kỳ; CPI bình quân tăng 4,45% so cùng kỳ (gần
sát ngưỡng mục tiêu 4,5%) và lạm phát cơ bản tăng 4,24%. Bên cạnh đó, các
doanh nghiệp có dư nợ bằng USD và một số ngoại tệ mạnh khác nhưng nguồn thu
chủ yếu bằng VND có thể chịu tác động kép từ lãi suất USD cao hơn và VND mất
giá nhẹ, làm gia tăng chi phí lãi vay và giá trị nghĩa vụ nợ khi quy đổi sang
VND. Vì vậy, cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ
giá…., vẫn luôn là bài toán ưu tiên của Việt Nam.
**_Tác động đối với dòng vốn đầu tư_**
**Đối với dòng vốn đầu tư gián tiếp** , lợi suất tại Mỹ và USD tăng giá làm
tăng mức hấp dẫn sinh lời yêu cầu đối với tài sản tại Việt Nam, trong bối cảnh
khối ngoại đã bán ròng 92.000 tỷ đồng từ đầu năm 2026 đến nay. Áp lực này có
thể được bù đắp một phần bởi dòng vốn vào Việt Nam khi FTSE Russell nâng hạng
Việt Nam lên thị trường mới nổi thứ cấp từ ngày 21/9/2026. Rủi ro cần theo dõi
là dư nợ ký quỹ hiện ở mức khoảng 450.000 tỷ đồng, làm tăng độ nhạy của thị
trường khi biến động mạnh.
**Đối với dòng vốn FDI** , tác động thường chậm hơn vì quyết định đầu tư phụ
thuộc nhiều vào triển vọng dài hạn, vị trí trong chuỗi cung ứng, chi phí sản
xuất và môi trường đầu tư. Tuy nhiên, chi phí vốn quốc tế cao kéo dài vẫn có
thể làm chậm một số quyết định đầu tư mới và ảnh hưởng tiến độ giải ngân.
**Bốn khuyến nghị**
Trên cơ sở tác động nêu trên, Nhóm Nghiên cứu có **bốn khuyến nghị** với Chính
phủ, các cơ quan quản lý và doanh nghiệp như sau:
**Một là, kiên định quyết tâm tăng trưởng cao gắn với ổn định kinh tế vĩ mô,
kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.** Trong đó, (i)
tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt với các kịch bản khi
có sự thay đổi chính sách tiền tệ của FED và các NHTW lớn trên thế giới; phối
kết hợp tốt với chính sách tài khóa, đảm bảo ổn định mặt bằng lãi suất và tỷ
giá góp phần kiềm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng; (ii) theo sát, phân tích
và dự báo diễn biến thị trường tài chính - tiền tệ quốc tế, cần xây dựng kịch
bản nếu Fed tăng nhanh lãi suất dẫn tới những biến động trên thị trường tài
chính toàn cầu và Việt Nam, có kịch bản ứng phó phù hợp.
**Hai là, cần xây dựng lộ trình và phối hợp thực thi điều tiết giá các mặt
hàng do Nhà nước quản lý** (đặc biệt là giá xăng dầu, giá điện, giá dịch vụ y
tế - giáo dục…) một cách phù hợp, nhịp nhàng, tránh giật cục, không phù hợp về
thời điểm. Bên cạnh đó, cần tăng cường truyền thông cùng các biện pháp bình ổn
giá (nhất là các giai đoạn cao điểm) nhằm giảm thiểu tâm lý quá lo sợ lạm phát
và hiện tượng tăng giá "té nước theo mưa"…v.v.
**Ba là, theo dõi, đánh giá nghĩa vụ trả nợ nước ngoài khi Fed tăng lãi suất**
nhằm có những cảnh báo kịp thời đối với doanh nghiệp và chuẩn bị phương án đối
với trả nợ của Chính phủ; tiếp tục điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối
chủ động, linh hoạt nhằm ổn định tỷ giá, góp phần kiểm soát lạm phát và hỗ trợ
doanh nghiệp, nhất là khối doanh nghiệp vay nợ nước ngoài nhiều.
**Cuối cùng, tăng giám sát rủi ro tài chính và dòng vốn:** các bộ, ngành liên
quan cần theo dõi chặt diễn biến tỷ giá, dòng vốn đầu tư gián tiếp, dư nợ cho
vay ký quỹ và rủi ro bán giải chấp trên thị trường chứng khoán; đồng thời tận
dụng cơ hội nâng hạng thị trường chứng khoán để thu hút dòng vốn trung - dài
hạn, giảm mức độ phụ thuộc vào dòng vốn ngắn hạn, kiểm soát rủi ro.